Album ảnh Cổ phục Việt Nam thế kỷ 17 qua những ghi chép của giáo sĩ phương Tây hoạt động tại Đàng Trong

Trong công tác nghiên cứu học thuật nói chung và khảo cứu, phỏng – phục dựng cổ phong nói riêng, việc tiếp cận được với một số lượng tư liệu, hiện vật liên quan tới đối tượng được nghiên cứu là vô cùng quan trọng, bởi càng tham khảo, phân tích nhiều thông tin thì cá nhân hay đơn vị tiến hành nghiên cứu càng có cái nhìn đa chiều và khách quan về đối tượng được nghiên cứu.

Chính vì lý do đó, ngoài các ghi chép, tranh vẽ, tượng, phù điêu, hiện vật, etc. do người Việt xưa cũng như các nước đồng văn thực hiện, chúng tôi còn cố gắng tìm tòi và sử dụng các ghi chép của người phương Tây viết về nước Việt xưa, trong đó có tác phẩm Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina (tạm dịch: ‘Tường thuật về sứ mạng mới của các cha Dòng Tên tại Vương quốc Đàng Trong) của giáo sĩ người Ý Cristoforo Borri.

Christoforo Borri là một giáo sĩ dòng Tên sinh ra tại Milan; cuối năm 1617- đầu 1618, ông cùng với các đạo hữu xuất phát từ Áo Môn (Macau) tới Hội An để truyền giáo và được biết đến dưới tên gọi “Bruno”. Những ghi chép mà Borri thực hiện trong thời gian ông hoạt động tại xứ Đàng Trong (1617- 1622) được nhiều học giả đánh giá là nguồn tư liệu tốt nhất mô tả lại tình hình Đàng Trong đầu thế kỷ 17.

Trong loạt bài này, chúng tôi sử dụng trực tiếp tài liệu sơ cấp là nội dung của chương 5: “Delle qualità, conditioni, costumi de’ Cocincini, del loro modo di vivere, vestire, e medicarsi” (tạm dịch: Về phẩm chất, tính tình, phong tục của người Đàng Trong, cách sinh hoạt, ăn mặc và y học) thay vì tham khảo các bản dịch hay những bài viết phái sinh từ các bản dịch trên (tài liệu thứ cấp bậc 1, bậc 2,…)

Trang phục của nữ giới

Về chất liệu may trang phục, theo Borri, tất cả đều được may bằng tơ lụa; điều này xét trên thực tế là rất hợp lý bởi dưới sự cai quản của các đời chúa Nguyễn, Hội An là một trong những thương cảng sầm uất nhất khu vực Đông Á, nơi mà cả người Á châu lẫn Âu châu đều đến để buôn bán, góp phần tạo nên điều kiện sống dư dả cho người dân nơi đây.

Về cấu trúc cơ bản của các trang phục cổ Việt Nam, Borri đánh giá cách phụ nữ Đàng Trong ăn mặc là giản dị nhất khu vực, và bất chấp khí hậu nóng bức, họ luôn mặc các bộ quần áo dài phủ kín toàn bộ cơ thể.

Họ mặc tới năm hay sáu váy áo (Usano cinque, o sei vesti), lớp nọ chồng lên lớp kia và tất cả đều có màu sắc khác nhau. Lớp thứ nhất phủ dài xuống chấm đất, họ kéo lê rất trịnh trọng, khéo léo và uy nghiêm đến nỗi không trông thấy đầu ngón chân. Sau đó là lớp thứ hai ngắn hơn cái thứ nhất chừng nửa bàn tay, rồi tới cái thứ ba ngắn hơn cái thứ hai và cứ thế, lớp nọ ngắn hơn cái kia sao cho màu sắc của từng lớp áo đều được phô bày. Đó là thứ phái nữ mặc từ thắt lưng xuống bên dưới. 

Điều đáng nói ở trong đoạn miêu tả này chính là việc tác giả dùng từ “vesti” (dạng số nhiều của từ “veste”). Trong tiếng Ý, “veste” có từ nguyên là từ “vestis” trong tiếng Latin. Cả “vestis” trong tiếng Latin và “veste” trong tiếng Ý đều được dùng để chỉ quần áo, trang phục nói chung, hoặc để chỉ các loại áo may từ khổ vải dài và lớn như toga của người La Mã hay các dạng áo giao lĩnh, viên lĩnh, đối khâm,… của người Á Đông.

Nhiều bản dịch “vesti” là “váy”, tuy nhiên, điều này là không chính xác bởi khi đối chiếu với các thứ tiếng khác thuộc nhóm ngôn ngữ Rô – man như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,… thì các từ có nghĩa tương đương với “veste” đều có chức năng chỉ cái dạng áo thân dài chứ không hề để gọi sự vật “váy”.

Lớp áo thứ nhất trong mô tả của Borri có thể là thân áo (giao lĩnh, viên lĩnh, khúc lĩnh,…) hoặc cũng thể là chính là “thường”, bởi các lần áo, cũng theo mô tả của Borri, được buộc cố định ở giữa thân và nhiều khả năng, phần đai buộc thường đã bị che mất, và nếu thượng y và thường có cùng màu sắc và chất liệu thì việc Borri cho rằng lần áo thứ nhất là một thứ áo dài chấm đất là hoàn toàn khả thi.

Quá trình phát triển trang phục của nữ giới
Quá trình phát triển trang phục của nữ giới

Hơn nữa, những ghi chép trên của Borri nếu xét kỹ, chúng ta sẽ thấy có sự trùng hợp với nhân vật nữ nhân An Nam Quốc trong bộ tranh Hoàng thanh chức cống đồ” (皇清職貢圖). Bộ tranh này được biên soạn vào năm Càn Long thứ 16 (1751) và hoàn thành vào năm Càn Long thứ 22 (1757). Vậy bức tranh vẽ phụ nữ Đàng Ngoài được thực hiện bởi người Đại Thanh thì có liên quan gì tới trang phục của phụ nữ Đàng Trong đầu thế kỷ 16?

Trang phục của nữ giới với phần dưới là váy nhiều tầng, phần trên gồm nhiều áo. Hoàng Thanh Chức cống đồ vẽ người phụ nữ mặc trang phục gồm nhiều áo giao lĩnh với độ dài khác nhau cũng tạo thành phần dưới có nhiều tầng với hiệu quả tương đương nhưng là loại khác với mô tả trong sách.
Trang phục của nữ giới với phần dưới là váy nhiều tầng, phần trên gồm nhiều áo. Hoàng Thanh Chức cống đồ vẽ người phụ nữ mặc trang phục gồm nhiều áo giao lĩnh với độ dài khác nhau cũng tạo thành phần dưới có nhiều tầng với hiệu quả tương đương nhưng là loại khác với mô tả trong sách.

Cần nhớ rằng, thời điểm Borri thực hiện những ghi chép này cách rất xa thời điểm chúa Nguyễn Phúc Khoát tiến hành cải cách trang phục ở Đàng Trong, hơn nữa, Borri đặt chân tới Việt Nam khi mà thế cục Nam Hà – Bắc Hà mới được hình thành chưa lâu, tuy chúa Nguyễn cố gắng xây dựng chính quyền độc lập tuy nhiên xét về cách ăn mặc, ở giai đoạn đầu thế kỷ 17, trang phục ở hai miền về cơ bản không quá khác biệt.

Xem thêm: Những kiểu trang phục phổ biến trong lịch sử Việt Nam và các nước đồng văn

(Còn tiếp)

Đông Du

Cổ phục Việt Nam thế kỷ 17 qua những ghi chép của giáo sĩ phương Tây hoạt động tại Đàng Trong

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)

0 ( 0 bình chọn )
Album ảnh Nước lũ ở xứ An Nam thế kỷ 17 qua ghi chép của học giả phương Tây

Xem ra, họ đã quá quen với việc này trong vài thế kỷ. Nếu nói theo ngôn ngữ cybernetics, giả sử Trung Trung Kỳ được coi là 1 hệ thống, thì mọi thứ diễn ra (bao gồm cả lũ lụt) vẫn được hệ thống này self-organised, trước khi có sự can thiệp từ bên ngoài hệ thống (tác động từ các miền khác, như từ thiện, hay phá thêm rừng….).

Xứ Đàng Trong 1 được người Bồ gọi như vậy nhưng trong tiếng bản xứ là Annam 2 có nghĩa là miền Tây. Đối với nước Tàu, xứ này thực sự nằm ở phía Tây. Nhưng người Nhật gọi xứ này là Cochi 3, trong tiếng bản xứ của họ, cũng có nghĩa là Annam trong tiếng Đàng Trong.

Nhưng người Bồ đã vào nước Annam để buôn bán, họ dùng tiếng Nhật Coci và tiếng Tàu Cina mà làm thành tiếng thứ ba là Cocincina để chỉ xứ này, chủ ý phân biệt Cocin cạnh Cina với tỉnh Cocin thuộc An Độ, do người Bồ chiếm đóng. Còn trong các bản đồ thế giới thì xứ Đàng Trong thường được ghi là Cauchinchine hay Cauchine hay tương tự, ấy chỉ là vì do ghi sai hoặc vì tác giả làm bản đồ muốn cho người ta biết xứ này như là cửa vào và là khởi đầu của Trung Quốc.

Về khí hậu và đặc tính lãnh thổ đàng trong. Xứ này ở vào giữa vĩ tuyến 11 và 17, do đó, nóng chứ không lạnh. Tuy vậy xứ này lại không nóng như Ấn Độ, mặc dầu cũng vĩ tuyến như nhau và thuộc về miền nhiệt đới như nhau. Lý do sự khác biệt này là ở Ấn Độ không phân rõ bốn mùa. Mùa hạ kéo dài tới chín tháng liên tục.

Trong thời gian đó, không thấy có một chút mây trên trời, ngày cũng như đêm, thành thử không khí luôn luôn bị thiêu đốt bởi ánh nắng mặt trời. Ba tháng còn lại được kể là mùa đông, không phải vì thiếu nóng, mà là vì mưa liên tục, thường là cả ngày lẫn đêm trong mùa này.

Nói theo kiểu bình thường thì mưa liên tục như thế hẳn phải làm không khí mát dịu. Tuy nhiên, vì mưa vào tháng năm, tháng sáu, tháng bảy, lúc mặt trời ở điểm cao nhất, ở tột đỉnh của An Độ và lại không hề có ngọn gió nào khác ngoài những ngọn gió thật nóng, nên không khí rất ngột ngạt, làm cho nhiệt độ khó chịu hơn là vào chính giữa mùa hạ vì lúc này thường có gió nhẹ thổi từ biển vào đem khí mát cho nội địa. Nếu không có sự an bài đặc biệt, thì không sao ở được trong những xứ sở này.

Ở Đàng Trong thì không thế bởi vì có đủ bốn mùa trong năm, tuy không rõ ràng như ở Châu Âu vốn có khí hậu ôn hòa hơn. Mùa hạ gồm ba tháng sáu, bảy, và tám, cũng rất nóng vì ở vào miền nhiệt đới và mặt trời trong những tháng đó cũng ở điểm cao nhất trên đầu chúng ta.

Nhưng vào tháng chín, mười và mười một thuộc mùa thu thì hết nóng và khí hậu dịu bởi có mưa liên tục, nhất là ở miền núi Kẻ Mọi. Do đó nước lũ làm ngập khắp xứ, đổ ra biển, như thể đất liền và biển chỉ còn là một. Cứ mười lăm hôm lại xảy ra một trận lụt và mỗi lần kéo dài ba ngày. Ích lợi của nước lũ là không những nó làm cho không khí mát mẻ, mà còn đem phù sa làm cho đất phì nhiêu và dồi dào về mọi sự, nhất là về lúa là thức ăn tốt nhất trời ban và là lương thực chung cho khắp xứ.

Còn vào ba tháng mùa đông – tháng chạp, tháng giêng và tháng hai thì có gió bắc thổi, đem mưa đủ lạnh để phân biệt mùa đông với các mùa khác trong năm. Sau cùng vào các tháng ba, tư và năm, hiện rõ các hiệu quả của một mùa xuân thú vị, tất cả đều xanh tươi và nở hoa. 

Xem thêm: Dọc theo con đường Cái Quan của Đông Dương năm 1931

Nhân tiện nói về lụt, tôi xin kể thêm ở chương này một vài sự kỳ lạ người ta gặp thấy trong dịp này.

Trước hết mọi người ở đây đều mong nước lũ, không những để được mát mẻ và dễ chịu, mà còn để cho đồng ruộng được mầu mỡ. Thế nên khi thấy mùa nước tới, họ để lộ hẳn sự vui mừng và thích thú: họ thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau, ôm nhau hò hét vui vẻ và nhắc đi nhắc lại “đã đến lụt, đã đến lụt” 1 có nghĩa là nước đã tới, nước đã tới rồi. Nói tóm lại là không ai là không bày tỏ niềm vui, từ kẻ thế gia đến chúa cũng vậy.

Nhưng thường thì nước lũ tới bất thần, không ai ngờ, ban chiều chưa ai nghĩ tới, nhưng sáng ra nước đã kéo vào tư bề, và người ta bị nhốt trong nhà, tình trạng này diễn ra khắp xứ. Do đọ họ thường mất hết gia súc vì không kịp đưa chúng chạy lên núi hay những nơi cao hơn.

Vào trường hợp này, có một luật kì lạ ở xứ này là bò, dê, lợn và các vật khác bị chết đuối thì không còn thuộc về chủ, nhưng đương nhiên thuộc về người thứ nhất vớt được. Đây cũng là một điều làm cho người ta vui thích một cách lạ lùng: vừa có lụt, mọi người đều nhảy xuống thuyền bơi đi tìm vớt gia súc chết đuối, để rồi làm thịt và dọn cỗ linh đình. 

Còn trẻ con thì tuỳ theo tuổi, chúng để mắt và vui thú rình trên cánh đồng lúa mênh mông đầy rẫy chuột lớn, chuột bé, vì hang ngập nước nên chúng phải ngoi ra, bò lên cây để thoát, thành thử thật là rất vui mắt khi được nhìn thấy những cảnh cây nặng trĩu những chuột thay vì lá hay quả. Từng đám trẻ con trên các chiếc thuyền nhỏ của chúng tới rung cây làm các con vật này rớt xuống nước và chết đuối. Trò đùa nghịch và giải trí của trẻ con, nhưng thực ra có ích lợi lớn cho đồng ruộng vì thoát được những con vật gây thiệt hại nặng cho những cánh đồng rộng lớn.

Cái lợi cuối cùng, không phải là nhỏ, đó là người ta đều có thể sắm sửa cho đủ mọi thứ cần dùng. Vì trong ba ngày này, nước lụt làm cho người ta có thể đi lại khắp nơi bằng thuyền một cách rất dễ dàng đến độ không có gì mà không chuyển được từ nơi này qua nơi khác. Do đó, người ta dành thời gian này để họp chợ, những phiên chợ có tiếng nhất trong xứ, số người đến họp chợ trong dịp này đông hơn bất kỳ buổi họp chợ nào khác trong năm.

Cũng trong ba ngày này, người ta đi lấy cây để thổi nấu và dựng nhà. Họ chất cây từ trên núi vào thuyền và dễ dàng bơi qua các nẻo, các ngõ và tới tận nhà vốn được cất trên các hàng cột khá cao để cho nước ra vào tự do. Ai cũng leo lên sàn cao nhất và phải khen họ vì không bao giờ lụt bén tới bởi họ đã lấy kích thước chính xác, do kinh nghiệm lâu năm, của mực nước cao thấp, do đó họ không sợ vì họ biết chắc là nước luôn ở phía dưới nhà họ.

Người ta dễ dàng nhận thấy là nước lụt đã làm cho đất đai ở xứ Đàng Trong phì nhiêu, như chúng tôi vừa nói. Tuy nhiên, tôi thấy còn phải kể nhiều sự đặc biệt khác nữa. 

Nước lụt làm cho đất mầu mỡ và phì nhiêu nên mỗi năm có ba vụ lúa 1, đầy đủ và dồi dào đến nỗi không ai phải lam lũ vất vả để sinh sống, ai cũng sung túc.

Xem thêm: Những thói hư, tật xấu của người Việt Nam thế kỷ 18 qua ghi chép của John Barrow

———–

Christoforo Borri (Milano, 1583 – Roma, 24 tháng 5 năm 1632) là một nhà truyền giáo Dòng Tên tại Việt Nam, là một nhà toán học và nhà thiên văn học. Các nguồn tiếng Anh trước đây viết tên ông là Christopher Borrus.

Năm 1616, từ Ma Cao, Borri được gửi đi truyền giáo tại Đàng Trong cùng với linh mục Pedro Marques; hai người đáp thuyền vào năm 1618. Ông cùng với hai linh mục Francisco de Pina và Francesco Buzomi đến lập cơ sở truyền giáo tại Nước Mặn. Borri ở Hội An từ 1618 đến 1622 và được gọi là Bruno.

Năm 1631, tại Roma, ông cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng bằng tiếng Ý ghi chép về Đàng Trong Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina (dịch nghĩa: “Tường thuật về sứ mạng mới của các cha Dòng Tên tại Vương quốc Đàng Trong”), không lâu sau được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Hà Lan, tiếng Latinh, tiếng Đức và tiếng Anh.

Nam Lê

Nước lũ ở xứ An Nam thế kỷ 17 qua ghi chép của học giả phương Tây

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)

Album ảnh Vì sao gọi “trong Nam, ngoài Bắc”, “vô (vào) Nam, ra Bắc”?

Tiếng Việt chúng ta khi nói “Trong” tức là trung tâm so với “Ngoài”; bao giờ “Trong” cũng có vai vế hơn (về mặt thực tiễn) so với “Ngoài”. Ta nói “Trong kinh thành, Ngoài biên ải”, chớ không ai đi phân định “Trong biên ải, Ngoài kinh thành” hết.

Trong một số trường hợp, “Trong” còn mang tính chất mật thiết hơn so với “Ngoài”. Ta nói “Trong nhà, Ngoài lộ”, chớ không ai đi nói “Trong lộ, Ngoài nhà”.

Cái thuở nước Việt chưa phân chia hai miền (chúa Nguyễn, chúa Trịnh) mà Thăng Long còn làm kinh đô chung, người ở Trong kinh kỳ khi ngó ra chốn mù khơi như Bình Định gọi là ngó ra Ngoài biên ải.

Bản đồ Việt Nam năm 1895 (cuối thời Nguyễn)
Bản đồ Việt Nam năm 1895 (cuối thời Nguyễn)

Nguồn gốc cách gọi Đàng Trong – Đàng Ngoài

Đến thời phân tranh Trịnh – Nguyễn, lấy ranh giới nơi sông Gianh (Quảng Bình) mà phân chia đất nước. Nói “Nam hà” 南 河 để chỉ lãnh thổ từ phía Nam sông Gianh trở vô, “Bắc hà” 北 河 để chỉ lãnh thổ từ phía Bắc sông Gianh trở ra. Nhưng, danh xưng chính thức thì không gọi Nam hà – Bắc hà, mà gọi là: Đàng Trong – Đàng Ngoài.

Lạ không, lẽ ra phải gọi toàn lãnh thổ phía bắc sông Gianh là “Đàng Trong” bởi nó có kinh đô Thăng Long; còn toàn lãnh thổ phía nam sông Gianh lẽ ra phải gọi là “Đàng Ngoài” (bởi nằm quá xa Ngoài biên cương luôn, vượt qua Phú Yên, vượt tới Cà Mau mịt mù) mới phải chớ?

Nhưng, hoàn toàn ngược lại!

Cõi phía nam được gọi là “Đàng Trong”, còn cõi phía bắc dầu có kinh kỳ Thăng Long đi nữa nhưng lại trở thành “Đàng Ngoài”.

“Đàng” (Đàng Trong, Đàng Ngoài) nghĩa là gì? “Đàng” = “đường”, nhưng “đường” ở đây không phải là “con đường” (Nếu tưởng như vậy, không lẽ “Đàng Trong” nghĩa là… Trong con đường, “Đàng Ngoài” là… Ngoài con đường? Nghe xong, khỏi hiểu luôn)

Trong Hán tự (nên nhớ trước khi có chữ Quốc ngữ, tiền nhân chúng ta xài Hán tự), “đường” có nhiều nghĩa. Ở đây, “đường” được viết 塘 , nghĩa là “con đê” (đê sông 河 塘 ; đê biển 海 塘)! Cách gọi này có liên quan tới Đào Duy Từ (1572- 1634), ông là người nghĩ ra cách xây lũy phòng thủ cho chúa Nguyễn (“Lũy Trường Dục”, còn gọi là “Lũy Thầy“). Hệ thống lũy này nhìn như con đê.

Lực lượng của chúa Nguyễn đóng phía Trong con đê, thành thử gọi “Đàng (đường) Trong”, nằm về phía Nam. Còn lực lượng chúa Trịnh ở phía Ngoài con đê, thành thử gọi “Đàng (đường) Ngoài”, nằm về phía Bắc.

Trong gần hai thế kỷ (thế kỷ 17, 18), cõi phía Nam sông Gianh liên tục được mở rộng và trải dài tới Cà Mau là cõi có kinh tế phồn thịnh hơn, có văn hóa cởi mở hơn so với cõi phía bắc sông Gianh.

Giáo sư Li Tana ở Đại học Quốc gia Úc khi nghiên cứu về Đàng Trong, bà đánh giá công trạng của Chúa Nguyễn Hoàng tương đương với công trạng của Ngô Quyền. Nếu Ngô Quyền, vào thế kỷ 10, đã mở đầu nền tự chủ lâu dài cho một nước Việt với lãnh thổ khoanh lại ở miền Bắc và phía bắc miền Trung, thì Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng), vào thế kỷ 17, đã mở ra một thời kỳ mới cho nước Việt với lãnh thổ mở rộng cho tới tận Cà Mau. Nói rõ hơn nữa, Đàng Trong của các Chúa Nguyễn trở thành một trung tâm phát triển mới, một sinh lực mới cho nước Việt.

Cách gọi Đàng Trong – Đàng Ngoài, dễ thấy đây là “hệ qui chiếu” được nhìn từ tọa độ của phía Nam. Và, danh xưng này được ghi chép vào lịch sử – bởi sức ảnh hưởng tự thân của nền kinh tế, xã hội của cõi phía Nam sông Gianh.

Đến cách gọi “trong Nam, ngoài Bắc”, “vô Nam, ra Bắc” hay “vào Nam, ra Bắc”

Thực tiễn phát triển của mỗi miền (Nam phát triển hơn Bắc) đã ghi dấu ấn rõ rành vào Trong ngôn ngữ, thể hiện qua danh xưng: cõi phía Nam mới là “Đàng Trong”, cõi phía Bắc là “Đàng Ngoài”, đó là thực tiễn lịch sử Trong thế kỷ 17, 18.

Dòng sử Việt dù đã đi qua thời kỳ định cõi riêng biệt giữa chúa Nguyễn với chúa Trịnh nhưng dấu ấn lịch sử vẫn còn lưu lại Trong lời ăn tiếng nói của người Việt cho tới hiện nay – gọi Trong Nam, Ngoài Bắc là bởi vậy đó!

Và, tới đây chúng ta dễ dàng hiểu vì sao gọi “Vô Nam” (vào Nam), mà không gọi “ra Nam”. Bởi vì Nam là “Trong” (Đàng Trong), nên người Việt mình khi nói “vô (vào)” tức là vô (vào) bên Trong, chớ không ai đi nói “ra bên Trong” hết.

Cũng vậy, gọi “ra Bắc”, bởi vì miền Bắc là “Ngoài” (Đàng Ngoài) nên khi ta nói “ra” tức là ra bên Ngoài, ra phía Ngoài, chớ không ai đi nói “vô (vào) bên Ngoài” hết.

Ngay cả hiện nay, dù miền Nam không còn như trước kia, nhưng luồng di dân từ Ngoài Bắc kéo vô Nam để định cư, kiếm sống vẫn tiếp diễn hết năm này qua năm khác. Còn số người từ trong Nam đi ra Bắc để định cư ít hơn hẳn.

Vì sao gọi “trong Nam, ngoài Bắc”, “vô (vào) Nam, ra Bắc”?

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)

Album ảnh Nguồn gốc, ý nghĩa “Đàng Trong” và “Đàng Ngoài”

Niên đại 1600, đánh dấu sự thoát ly của Nguyễn Hoàng khỏi vòng cương tỏa của Trịnh Tùng. Nói rõ hơn, niên đại 1600, Nguyễn Hoàng dứt khoát bỏ miền Bắc, đặt Thuận – Quảng vào thế đứng biệt lập với Thăng Long.

Sau biến cố Tết Đoan Ngọ, 1600, có một chỉ danh mới xuất hiện trong ngôn ngữ địa phương, đặc biệt là vùng Bắc Bố Chính, đó là Đàng Ngoài và Đàng Trong. Bàn về sự xuất hiện hai địa danh Đàng Ngoài, Đàng Trong, đã có nhiều ý kiến đóng góp khác nhau.

Nguồn gốc của sự phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài

Nguồn gốc của sự phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài bắt nguồn từ cuộc chiến Nam – Bắc triều. Trong công cuộc phục hồi triều Lê dấy lên ở Thanh Hoá, sau khi Nguyễn Kim bị mưu sát, Trịnh Kiểm được vua Lê đưa lên nắm quyền, đã tìm cách loại trừ phe cánh của Nguyễn Kim. Con trai đầu của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông bị ám hại, con trai thứ Nguyễn Hoàng, theo gợi ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm và giúp đỡ của chị là vợ Trịnh Kiểm đã cùng anh em, bà con người Tống Sơn và quan lại cũ của Nguyễn Kim xin được vào trấn thủ Thuận Hoá (1558) rồi kiêm lĩnh luôn đất Quảng Nam (1570).

Từ đó, con cháu họ Nguyễn thế tập giữ tước quận công do vua Lê ban cho Nguyễn Hoàng và về danh nghĩa vẫn tôn phù vua Lê, nhưng trên thực tế hoàn toàn cai quản vùng Thuận-Quảng và nhân dân gọi là chúa Nguyễn. Các chúa Nguyễn một mặt xây dựng hệ thống thành luỹ kiên cố, như lũy Trường Dục, lũy Nhật Lệ (lũy Thầy), lũy Trường Sa, lũy Trấn Ninh, lũy Sa Phụ để gia tăng phòng thủ, đánh lui các cuộc tiến công của quân Trịnh, mặt khác mở rộng dần lãnh thổ về phía nam đến tận đồng bằng sông Cửu Long. Trong gần nửa thế kỷ từ 1627 đến 1672, hai bên đánh nhau 7 lần mà không có kết quả, dân tình quá khổ cực, chán nản, hai họ Trịnh, Nguyễn phải ngừng chiến, lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt lãnh thổ, miền Nam sông Gianh thuộc quyền chúa Nguyễn, được gọi là Đàng Trong hay Nam Hà

Đàng Trong
Đàng Trong (Ảnh wikipedia)

“Chữ Đàng” trong danh từ “Đàng Ngoài, Đàng Trong” vốn có nghĩa là gì?

Trong cuốn Từ điển An nam – Lusitan – La tinh (thường gọi Từ điển Việt – Bồ – la, NXB KHXH, 1991 của A. de Rhodes (do Thanh Lãng – Hoàng Xuân Việt – Đỗ Quang Chính dịch), Đàng Ngoài là “bốn tỉnh chung quanh thủ đô Đông Kinh”, Đàng Trong là “những tỉnh còn lại từ nước (sic) Đông Kinh cho tới vương quốc Chămpa”.

Nhiều từ mang nguyên âm “ă” trong tiếng Việt hiện đại thì ở thế kỷ XVII còn mang nguyên âm “a” nên trong từ điển của De Rhodes ghi: có chang (chăng), chảng có (chẳng có), chạt tay (chặt tay),… Do đó, trong từ điển trên có đàng mà chưa có đằng.

Trong Từ điển tiếng Việt (2000), Hoàng Phê (chủ biên) ghi nhận đàng và đằng là hai dạng của một từ. Đằng có hai nghĩa (trong bốn nghĩa) có liên quan tới từ Đàng (Đàng trong, Đàng ngoài):

  1. Nơi, trong quan hệ đối lập với một nơi khác: Ngồi ở đằng mui thuyền, chứ không phải ở đằng lái.
  2. (khẩu ngữ) Phía của người hoặc những người nào đó, trong quan hệ đối lập với một phía khác; bên: đằng họ nhà gái; bà con về đằng ngoại.

Trong cuốn Xứ Đàng Trong (NXB Trẻ, 1999, tr. 16–17) của Li Tana (Nguyễn Nghi dịch), dịch Đàng Trong là “vùng trong”. Dịch “Đàng” là “vùng” cũng tạm được nhưng chưa sát nghĩa.

Tóm lại, Đàng trong danh từ Đàng Trong và Đàng Ngoài có nghĩa là “phía bên”, mang ý nghĩa đối lập nhau. Đàng ngày trước chính là đằng ngày nay.

(PGS.TS Lê Trung Hoa)

Chỉ danh Đàng Ngoài – Đàng Trong và thời điểm xuất hiện

Sau năm 1600, khi ba cái đồn ở Bắc Bố Chính được thiết lập, thì sinh hoạt địa phương trở nên nhộn nhịp. Một phần do binh lính trong đồn có nhu cầu của đời sống, một phần dân cư gần đó muốn có sự trao đổi mua bán với quân sĩ trú đóng trong ba cái đồn. Do vậy mới có một cái chợ [gia binh] nhóm gần đồn Phan Long. Lúc đầu tên cái chợ cũng là tên cái đồn, chợ Phan Long. Về sau chợ được cải tên là chợ Ba Đồn. Có lẽ do binh lính và cả vợ con của họ ở đồn Xuân Kiều và đồn Trung Ái tập trung về chợ Phan Long, càng ngày càng đông, do đó mới có một tên chung là Chợ Ba Đồn [chợ chung cho cả ba cái đồn]. Chợ Ba Đồn từ ngày khai sinh, nay đang tồn tại và trở thành một thị trấn lớn, nơi đặt huyện lỵ huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày nay.

Do hoàn cảnh lịch sử, phương dân cả phía bắc Đèo Ngang, cả phía nam Đèo Ngang đã có cơ hội gặp gỡ nhau, mua bán, trao đổi hàng hoá địa phuơng với nhau tại một cái chợ phiên, cứ 10 ngày họp một lần vào các ngày 6, 16, 26 của mỗi tháng âm lịch.

Khi họp chợ, người ta quen nhau, biết mặt nhau và biết cả quê quán của nhau. Từ một hoàn cảnh như vậy, tất dễ phát sinh ra một chỉ danh đặc biệt để phân biệt kẻ trong, người ngoài. Do vậy, danh xưng Đàng Trong – Đàng Ngoài, chúng tôi cho rằng đã xuất hiện sau năm 1600. Địa điểm xuất hiện là vùng Bắc Bố Chính. Cơ hội xuất hiện là trong các phiên họp chợ ở Ba Đồn. Tập thể sử dụng đầu tiên có thể là phương dân vùng Sông Gianh – Đèo Ngang, bởi vì câu ca dao dùng chỉ danh Đàng Ngoài đầu tiên mang thổ ngữ đặc sệt của điạ phương Bắc Bố Chính.

Đàng Ngoài đã lắm cau khô.
Lắm con gái đẹp trẩy vô thăm chồng,
Gặp trộ mưa giông,
Đàng trơn gánh nặng,
Đèo Ngang chưa trèo,
Khớp [sợ] hòn đá cheo leo,
Chân trèo, chân trợt,
Kháp [giáp mặt] O múc nước
Chộ [thấy] chú chăn trâu,
Ba đồn quan lính ở đâu ?

(Ca dao vùng Bắc Bố Chính)

(Hoàng Đinh Hiếu – nghiencuulichsu.com)

Nhưng tại sao lại là chữ “Trong” và chữ “Ngoài”

“Không phải người xưa không biết phân biệt đông tây nam bắc, họ đã vẽ bản đồ, chỉ khác một điều là hướng nam, hướng chính, nằm ở bên trên mang ý nghĩa Thiên tử ngồi ở phía bắc quán xuyến trông coi cai trị thần dân. Hướng nhìn đó đã đổi, chi li chính xác hơn, với kiến thức mới, trong các bản đồ ngay từ đầu óc trẻ thơ, ví dụ ở quyền Địa dư giáo khoa thư. Thế là Trung Kì, Nam Kì, theo đó Chiêm Thành, Cao Miên nằm ở phía nam Bắc Kì chứ không ở phía tây nữa. […] Và không thể coi từ Tây tiến đến Nam tiến chỉ là sự điều chỉnh danh từ. Trong tâm ý cũ, phía tây là rừng thiêng nước độc, là sự ngại ngùng e sợ. Sự phân biệt có định kiến đó đã lòn vào trong sự phân biệt “trong” và “ngoài”: trong rừng núi âm u tối tăm và ngoài đồng nội rộng rãi thênh thang. Danh xưng hai vùng Đàng Trong và Đàng Ngoài xuất phát từ thành kiến đó. Cho nên, ý niệm Nam tiến khi thay thế ý Tây tiến đã như một sự giải phóng trí óc to lớn. Tây tiến là khó khăn, gây sợ hãi, ngại ngùng […] trong khi Nam tiến lại được coi là một nhiệm vụ lịch sử, tự nhiên, suôn sẻ, hợp đạo lí, không thể chối cãi”

(Tạ Chí Đại Trường)

Theo tác giả Roland Jacques (trong cuốn “Những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học”, NXB Khoa học xã hội, 2007), thì cách giải thích của một thầy cả Dòng Tên (và cũng là một nhà ngữ học) người Bồ Đào Nha là Gaspar do Amaral (tài liệu công bố năm 1637) có nhiều luận cứ đáng tin cậy. Theo ông, sau khi nhà Mạc chiếm quyền thắng thế ở Thăng Long, việc phục hồi nhà Lê lập tức được tiến hành. Năm 1545, nhà Lê(trung hưng) đã củng cố và xây dựng đắp lũy, làm nên một “mật khu” ở Thanh Hóa, Nghệ An. Sau đó kinh đô Thăng Long bị mất, nhà Lê(trung hưng) rút về hậu cứ và kiên trì tìm cách lấy lại.

Mãi đến năm 1592, nhà Lê(trung hưng) mới đoạt lại được đất đai từ tay kẻ “thoán nghịch” sau nhiều lần chinh chiến. Chính vào giai đoạn này người ta quen gọi vùng Thanh Hóa, Nghệ An là Đàng Trong (ngụ ý đất chính, đất của mình). Phần từ đó trở ra Bắc gọi là Đàng Ngoài. Cũng phải thôi, vì với triều thần nhà Lê(trung hưng), dải đất Thanh – Nghệ kia mới đáng là “trái tim” trong giang sơn của họ”.

Vậy theo thông tin do cố đạo Gaspar do Amaral cung cấp thì hai tên gọi Đàng Trong, Đàng Ngoài đã ra đời từ khoảng giữa thế kỷ XVI.

(An ninh thế giới)

Đàng Ngoài
Đàng Ngoài (Ảnh wikipedia)

“Ra Bắc Vào Nam”

Trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi (đầu đời Lê), động từ nhập đã được dùng để chỉ việc đi vào Nam: “Trần Thái Tôn mệnh thượng tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải NHẬP ngự Nguyên nhân vu Nghệ An” ( Vua Trần Thái Tôn hạ lệnh cho Thượng tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải VÀO chặn đánh quân Nguyên ở Nghệ An).

Trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của một tác giả tự xưng là “nhà nho đỗ thi hương, họ Đỗ Bá, hiệu Đạo Phủ, quê ở Bích Triều, Thanh Giang” cũng đã có những câu dùng XUẤT, NHẬP, NGOẠI liên quan đến hướng Nam Bắc như vậy: – “Như tự Cửa Lạc Việt, NHẬP, nghi thu đông, XUẤT nghi xuân hạ” ( Nếu từ Cửa Lạc vượt biển để VÀO thì phải đi trong mùa thu hay mùa đông, để RA thì phải đi trong mùa xuân hay mùa hạ). – “Tự Lại doanh XUẤT chí Kinh nhà Hồ… Tự NGOẠI NHẬP chí Tam Độ” ( Từ doanh Lại RA đến Kinh nhà Hồ… Từ NGOÀI mà VÀO đến Tam Độ).

Hơn nữa có chỗ văn bản vừa dùng câu chữ Hán có XUẤT, NHẬP vừa dùng câu Nôm có RA, VÀO để giải thích cho nhau: – “Tự Cầu Ngạn NHẬP tắc xanh thuyền diên Thạch Hà biên, XUẤT tắc xanh thuyền diên Thiên Lộc biên, tục vân VÀO THẠCH HÀ, RA THIÊN LỘC” (Từ Cầu Ngạn mà VÀO thì phải chèo thuyền ven theo bên Thạch Hà, mà RA thì phải chèo thuyền ven theo bên Thiên Lộc, có câu tục ngữ rằng: VÀO THẠCH HÀ, RA THIÊN LỘC).

Những cứ liệu lịch sử Việt Nam mà đưa ra để khẳng định rằng, chính lối nói VÀO NAM, RA BẮC đã đưa đến cách gọi ĐÀNG TRONG, ĐÀNG NGOÀI chứ không phải là ngược lại.

Chắc trước tiên phải có những câu nói cụ thể ở từng địa phương nhỏ, phản ánh đúng sự đi lại tùy theo địa hình từng vùng rồi sau đó mới hình thành những câu nói chung hơn như xuống Đông lên Đoài, ra Bắc vào Nam, chứ không phải là trước tiên có những công thức khái quát dựa trên địa lý toàn quốc rồi mới đem ứng dụng nhất luật vào từng vùng nhỏ.

Lối nói vào Nam – ra Bắc đã có từ thời Nguyễn Trãi. Vậy nó phải sản sinh trên cơ sở những lối nói về việc đi lại trên địa bàn Việt Nam khoảng thời gian trước đó, tức khoảng đầu thế kỷ XV về trước. Thời gian này, như cứ liệu lịch sử cho biết, lãnh thổ Việt Nam mới bao gồm vùng Bắc Bộ và giải đất từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên.

Đi vào nơi hẹp, kín, bí hiểm, tận cùng mà dùng vào, vào trong…, đi ra nơi rộng thoáng, mở mang mà dùng ra, ra ngoài…, điều đó hoàn toàn không có gì xa lạ với những lối nói quen thuộc như vào ngõ, vào cổng, vào trong hang, vào trong rừng/ra khơi, ra đồng, ra ngoài sân, ra ngoài bãi…

Nhưng do một sự tình cờ của địa lý, giải đất hẹp, bí hiểm vùng biên giới lại ở phía Nam, chỗ đồng bằng rộng thoáng, mở mang lại ở phía Bắc, cho nên những lối nói có vào/ra như trên lại ngẫu nhiên mang thêm một nét nội dung mới: nói vào một địa điểm X là nói đi về phía Nam hơn, so với đồng bằng Bắc Bộ; và nói ra một địa điểm Y là nói đi về phía Bắc hơn, so với các vùng Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên.

(GS Nguyễn Tài Cẩn)

Nguồn: M & Tôi

Nguồn gốc, ý nghĩa “Đàng Trong” và “Đàng Ngoài”

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)