• Album ảnh Thảm tấm Suminoe Px5002
  • Album ảnh Thảm tấm Suminoe Px5002

Tên đường Sài Gòn thời Pháp thuộc

Đường phố Sài Gòn thời Pháp thuộc.
Đường phố Sài Gòn thời Pháp thuộc. (Ảnh Jack Birns)

Trước hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 hầu hết các đường phố Sài Gòn đều có tên Tây như:

Boulevard Charner

Boulevard Galliéni

Boulevard Kitchener

Boulevard Norodom

v.v…

Xem thêm: 20 bức ảnh hiếm về Sài Gòn năm 1948 qua ống kính của Jack Birns

Nhà văn Thuần Phong Ngô Văn Phát và việc đặt tên đường phố Sài Gòn trước 1975

Từ lâu, tôi đã có dịp bày tỏ lòng ngưỡng mộ và khâm phục về việc đặt tên cho các đường phố tại Sài Gòn vào năm 1956, ngay sau khi chúng ta dành được độc lập từ tay thực dân Pháp. Vì đây là một công việc quá xuất sắc và quá hoàn thiện, nên tôi vẫn đinh ninh rằng đó phải là một công trình do sự đóng góp công sức và trí tuệ của rất nhiều người, của một ủy ban gồm nhiều học giả, nhiều sử gia, nhiều nhà văn, nhà báo…

Nhưng thật là bất ngờ, bất ngờ đến kinh ngạc, khi qua tài liệu đính kèm của tác giả Nguyễn Văn Luân, chúng ta được biết kiệt tác của lịch sử này đã được hoàn thành bởi… một người. Người đó là ông Ngô Văn Phát, Trưởng Phòng Họa Đồ thuộc Tòa Đô Chánh Sài Gòn.

Trong những năm làm việc tại Tòa Đô Chánh Sài Gòn, tôi có dịp góp phần trông coi việc xây dựng và tu bổ đường xá, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Sài Gòn Tây (Chợ Lớn) gồm 6 quận 5, 6, 7, 8, 10 và 11, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Sài Gòn Đông (Sài Gòn) gồm 5 quận 1, 2, 3, 4 và 9. Hàng ngày họp với các ông cai lục lộ phụ trách từng khu vực, nghe báo cáo đường thì ngập nước sau cơn mưa, đường thì có ổ gà, nhựa đường tróc hết trơ lớp đá xanh đá đỏ nền đường, đường thì dân xây cất trên lộ giới tràn ra lề đường, nên tôi gần như thuộc lòng tên hơn 300 con đường.

Bản đồ Thành Đô Saigon trước năm 1975

Sau hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 chính quyền Pháp bàn giao cho Chính Phủ Bảo Đại, với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Xem thêm: Chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam?

Để đánh dấu việc giành độc lập từ tay người Pháp, Toà Đô Chánh Sài Gòn được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ tên đường từ tên Pháp qua tên Việt trong khoảng thời gian ngắn nhất. Trong lịch sử của các thành phố có bao nhiêu lần đổi tên hàng loạt toàn bộ các con đường như thế này? Có lẽ vô cùng hiếm hoi.

Việc đối chiếu tên các danh nhân trong lịch sử 4000 năm để đặt tên đường sao cho hợp lý không phải dễ. Chỉ nghĩ đơn thuần, khi dùng tên Vua “Trần Nhân Tôn” và Tướng “Trần Hưng Đạo”, người làm dưới trướng của Vua, để đặt tên cho 2 con đường thì đường nào to và quan trọng hơn? Câu hỏi nhỏ như vậy còn thấy không đơn giản, huống chi cân nhắc cho ngần ấy con đường trong một thời gian gấp rút thật không dễ.

Lúc bấy giờ công việc này được giao cho Ty Kỹ Thuật mà Phòng Hoạ Đồ là phần hành trực tiếp. May mắn thay cho thành phố có được nhà văn Ngô Văn Phát**, bút hiệu Thuần Phong, có bằng Cán Sự Điền Điạ lúc ấy đang giữ chức Trưởng Phòng Hoạ Đồ.

Năm 1956, sau hơn ba tháng nghiên cứu, ông đã đệ trình lên Hội Đồng Đô Thành, và toàn bộ danh sách tên đường ấy đã được chấp thuận. Khi tôi vô làm năm 1965 và hàng ngày lái xe đi công trường, đụng chạm với các con đường mới cảm nhận được sự uyên bác về lịch sử của ông. Nhìn những tên đường trên họa đồ, khu nào thuộc trung tâm thành phố, khu nào thuộc ngoại ô, đường nào tên gì và vị trí gắn bó với nhau, càng suy nghĩ càng hiểu được cái dụng ý sâu xa của tác giả.

Sài Gòn 1968
Sài Gòn 1968 (Ảnh: Bettmann/ CORBIS)

Xem thêm: Ảnh màu về bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975

Các đường được đặt tên với sự suy nghĩ rất lớp lang mạch lạc với sự cân nhắc đánh giá bao gồm cả công trạng từng anh hùng một lại phù hợp với địa thế, và các dinh thự đã có sẵn từ trước. Tác giả đã cố gắng đem cái nhìn vừa tổng quát lại vừa chi tiết, những khía cạnh vừa tình vừa lý, đôi khi chen lẫn tính hài hước, vào việc đặt tên hiếm có này. Tôi xin kể ra đây vài thí dụ, theo sự suy đoán riêng của mình, bởi vì ông có nói ra đâu, nhưng tôi thấy rõ ràng là ông có ý ấy:

Đầu tiên là những con đường mang những lý tưởng cao đẹp mà toàn dân hằng ao ước: Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Cộng Hoà, Thống Nhất. Những con đường hoặc công trường này đã nằm ở những vị trí thích hợp nhất.

Đường đi ngang qua Bộ Y Tế thì có tên nào xứng hơn là Hồng Thập Tự.

Đường de Lattre de Tassigny chạy từ phi trường Tân Sơn Nhất đến bến Chương Dương đã được đổi tên là Công Lý, phải chăng vì đi ngang qua Pháp Đình Sài Gòn. Con đường dài và đẹp rất xứng đáng. Ba đường Tự Do, Công Lý và Thống Nhất giao kết với nhau nằm sát bên nhau bên cạnh dinh Độc Lập.

Đại Lộ Nguyễn Huệ nằm giữa trung tâm Sài Gòn nối từ Toà Đô Chánh đến bến Bạch Đằng rất xứng đáng cho vị anh hùng đã dùng chiến thuật thần tốc phá tan hơn 20 vạn quân Thanh. Đại Lộ này cũng ngắn tương xứng với cuộc đời ngắn ngủi của ngài.

Những danh nhân có liên hệ với nhau thường được xếp gần nhau như Đại Lộ Nguyễn Thái Học với đường Cô Giang và đường Cô Bắc, cả ba là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Hoặc đường Phan Thanh Giản với đường Phan Liêm và đường Phan Ngữ, Phan Liêm và Phan Ngữ là con, đã tiếp tục sự nghiệp chống Pháp sau khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết.

Những đại lộ dài nhất được đặt tên cho các anh hùng Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi và Hai Bà Trưng. Mỗi đường rộng và dài tương xứng với công dựng nước giữ nước của các ngài.

Đường mang tên Lê Lai, người chịu chết thay cho Lê Lợi thì nhỏ và ngắn hơn nằm cận kề với đại lộ Lê Lợi.

Đường Khổng Tử và Trang Tử trong Chợ Lớn với đa số cư dân là người Hoa.

Bờ sông Sài Gòn được chia ra ba đoạn, đặt cho các tên Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, và Bến Hàm Tử, ghi nhớ những trận thuỷ chiến lẫy lừng trong lịch sử chống quân Mông Cổ, chống Nhà Nguyên của Hưng Đạo Đại Vương vào thế kỷ 13.

Cụ Nguyễn Du, mà thầy đồ Thiệp, người dạy học vỡ lòng cho tôi, khi nói chuyện với cha tôi, bao giờ cũng gọi với danh xưng Cụ Thánh Tiên Điền. Cuốn truyện Kiều của cụ ngày nay được chúng ta dùng như là khuôn mẫu cho tiếng Việt, khi có sự tranh luận về danh từ hay văn phạm, người ta thường trích một câu Kiều làm bằng. Vậy phải tìm đường nào đặt tên cho xứng? Tôi thấy con đường vừa dài vừa có nhiều biệt thự đẹp, với hai hàng cây rợp bóng quanh năm, lại đi ngang qua công viên đẹp nhất Sài Gòn, vườn Bờ Rô, và đi ngang qua Dinh Độc Lập, thì quá xứng đáng. Không có đường nào thích hợp hơn. Tuyệt! Vườn Bờ Rô cũng được đổi tên thành Vườn Tao Đàn làm cho đường Nguyễn Du càng thêm cao sang.

Vua Lê Thánh Tôn, người lập ra Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, cũng cho mang tên một con đường ở địa thế rất quan trọng, đi ngang qua một công viên góc đường Tự Do, và đi trước mặt Toà Đô Chánh.

Trường nữ Trung Học Gia Long lớn nhất Sài Gòn thì, (trớ trêu thay?), lại mang tên ông vua sáng lập nhà Nguyễn. Trường nữ mà lại mang tên nam giới! Có lẽ nhà văn Thuần Phong muốn làm một chút gì cho trường nữ Trung Học công lập lớn nhất thủ đô có thêm nữ tính, nên đã đặt tên hai đường song song nhau cặp kè hai bên trường bằng tên của hai nữ sĩ: Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm. Chùa Xá Lợi nằm trên đường Bà Huyện Thanh Quan thấy cũng nhẹ nhàng.

Thẳng góc với hai đường Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm là đường Hồ Xuân Hương. Ba nữ sĩ nằm bên cạnh nhau, thật là có lý, nhưng có lý hơn nữa có lẽ là đường Hồ Xuân Hương đi ngang qua bệnh viện Da Liễu. Tác giả những câu thơ “Vành ra ba góc da còn thiếu, Khép lại hai bên thịt vẫn thừa” mà cho mang tên đường có bệnh viện Da Liễu có lẽ cũng xứng hợp. Ông Nhà Văn – Trưởng Phòng Họa Đồ quả là sâu sắc.

Rất tiếc là lúc vào làm việc thì Thuần Phong Ngô Văn Phát đã về hưu nên tôi không được hân hạnh gặp mặt. Mãi sau này mới có dịp đọc tiểu sử của ông, mới hết thắc mắc làm sao chỉ là một công chức như tôi mà ông đã làm được việc quá xuất sắc và hi hữu này.

Xem thêm: Ảnh độc về người nghèo ở Sài Gòn năm 1965

Tên đường phố Sài Gòn sau 1975

Từ sau tháng 4 năm 1975, khoảng gần 1/3 tên đường của Sài Gòn cũ đã được thay đổi, làm cho việc đối chiếu tài liệu, hình ảnh của Saigon xưa và nay gặp chút khó khăn.

TP Hồ Chí Minh hiện tại
TP Hồ Chí Minh hiện tại

Trong bài hát Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn than thở về việc con phố bị đổi tên đường đã làm cho đôi tình nhân lạc lối tìm nhau như sau:

Mất từng con phố đổi tên đường

Khi hẹn nhau ta lạc lối tìm…

Bảng đối chiếu tên đường phố Sài Gòn thời Pháp thuộc, VNCH và TPHCM hiện tại

#Thời Pháp thuộcThời VNCHHiện tại
1Boulevard BonardLê LợiLê Lợi
2Boulevard ChansonLê Văn DuyệtCách Mạng Tháng Tám
3Boulevard CharnerNguyễn HuệNguyễn Huệ
4Boulevard GalliéniTrần Hưng ĐạoTrần Hưng Đạo
5Boulevard KitchenerNguyễn Thái HọcNguyễn Thái Học
6Boulevard NorodomThống NhấtLê Duẩn
7Boulevard Paul BertTrần Quang KhảiTrần Quang Khải
8Boulevard de la SommeHàm NghiHàm Nghi
9Rue – 11e RIC (Régiment d’Infanrerie Colonniale)Nguyễn HoàngTrần Phú
10AbattoirHưng PhúHưng Phú
11d’AdranVõ Di NguyPhan Đình Phùng
12Albert 1erĐinh Tiên HoàngĐinh Tiên Hoàng
13Alexandre de RhodesLục TỉnhAlexandre de Rhodes
14Alexandre FrostinBà Lê ChânBà Lê Chân
15Alsace LorainePhó Đức ChínhPhó Đức Chính
16Amiral DupréThái Lập ThànhĐông Du
17Amiral RozeTrương Công ĐịnhTrương Định
18d’ArfeuilleNguyễn Đình ChiểuNguyễn Đình Chiểu
19Armand RousseauHùng VươngHùng Vương
20d’ArrasCống QuỳnhCống Quỳnh
21Arroyo de l’AvalancheRạch Thị NghèRạch Thị Nghè
22AudouitCao ThắngCao Thắng
23d’AyotNguyễn Văn SâmNguyễn Thái Bình
24BallandeNguyễn Khắc NhuNguyễn Khắc Nhu
25BarbierLý Trần QuánLý Trần Quán
26BarbéLê Quý Đôn / Hồng Thập TựNguyễn Thị minh Khai
27Blan SubéDuy TânPhạm Ngọc Thạch
28BourdaisCalmetteCalmette
29CatinatTự DoĐồng Khởi
30ChaigneauTôn Thất ĐạmTôn Thất Đạm
31ChampagneYên ĐổLý Chính Thắng
32Charles de CoppeHoàng DiệuHoàng Diệu
33Charles ThomsonHồng BàngHồng Bàng
34Chasseloup LaubatHồng Thập TựNguyễn Thị minh Khai
35Colonel BudonnetLê LaiLê Lai
36Colonel GrimaudPhạm ngũ LãoPhạm ngũ Lão
37CornulierThi SáchThi Sách
38Danel – Denis FrèresPhạm Đình HổNgô Đức Kế
39DixmudeĐề ThámĐề Thám
40Docteur AngierNguyễn Bỉnh KhiêmNguyễn Bỉnh Khiêm
41Docteur YersinKý ConKý Con
42Đỗ Hữu VịHuỳnh Thúc KhángHuỳnh Thúc Kháng
43DouaumontCô GiangCô Giang
44DumortierCô BắcCô Bắc
45DurantonBùi thị XuânBùi thị Xuân
46Eyriaud des VergesTrương Minh GiảngLê Văn Sĩ
47l’ÉgliseTrần Bình TrọngTrần Bình Trọng
48d’EspagneLê Thánh TônLê Thánh Tôn
49FaucaultTrần Khắc ChânTrần Khắc Chân
50Frère LouisNguyễn Trãi & Võ TánhNguyễn Trãi
51Frère GuillerautBùi ChuTôn Thất Tùng
52FilippinyNguyễn Trung TrựcNguyễn Trung Trực
53FonckĐoàn Nhữ HàiĐoàn Nhữ Hài
54GallimardNguyễn Huy TựNguyễn Huy Tự
55GaudotKhổng TửKhổng Tử
56Georges GuynomerVõ Di NguyVõ Di Nguy
57Guillaume MartinĐỗ Thành NhânĐỗ Thành Nhân
58HamelinHồ Văn NgàHồ Văn Ngà
59HeurteauxNguyễn Trường TộNguyễn Trường Tộ
60Hui Bon HoaLý Thái TổLý Thái Tổ
61JaccaréoTản ĐàTản Đà
62JauréguiberryHồ Xuân HươngHồ Xuân Hương
63Jean EudelTrình Minh ThếNguyễn Tất Thành
64LacazeNguyễn Tri PhươngNguyễn Tri Phương
65LacottePhạm Hồng TháiPhạm Hồng Thái
66LacautTrương Minh KýHoàng Văn Thụ
67De LagrandièreGia LongLý Tự Trọng
68LarclauseTrần Cao VânTrần Cao Vân
69LefèbvreNguyễn công TrứNguyễn công Trứ
70Legrand de la LirayePhan Thanh GiảnĐiện Biên Phủ
71Le ManCao Bá NhạCao Bá Nhạ
72Léon CombesSương Nguyệt ÁnhSương Nguyệt Ánh
73LesèbleLý Văn PhứcLý Văn Phức
74Loucien LecoutureLương Hữu KhánhLương Hữu Khánh
75LuroCường ĐểĐinh Tiên Hoàng
76Mac MahonCông LýNam kỳ Khởi Nghĩa
77MarchaiseKý ConKý Con
78Maréchal FoxNguyễn Văn ThoạiLý Thường Kiệt
79Maréchal PétainThành TháiAn Dương Vương
80de MarinsĐồng KhánhTrần Hưng Đạo B
81Martin des PallièresNguyễn Văn GiaiNguyễn Văn Giai
82MassigesMạc Đĩnh ChiMạc Đĩnh Chi
83MayerHiền VươngVõ Thị Sáu
84Miche PhùngPhùng Khắc KhoanPhùng Khắc Khoan
85Miss CawellHuyền Trân Công ChúaHuyền Trân Công Chúa
86NancyCộng HoàNguyễn Văn Cừ
87Nguyễn Tấn NghiệmPhát DiệmTrần Đình Xu
88NoelTrương Hán SiêuTrương Hán Siêu
89OhierTôn Thất ThiệpTôn Thất Thiệp
90d’OrmayNguyễn Văn ThinhMạc Thị Bưởi
91ParacelsAlexandre de RhodesAlexandre de Rhodes
92ParisPhùng HưngPhùng Hưng
93PavieTrần Quốc Toản3 tháng 2
94Paul BlanchyHai Bà TrưngHai Bà Trưng
95Paulin VialPhan LiêmPhan Liêm
96PellerinPasteurPasteur
97Pierre FlandinĐoàn thị ĐiểmĐoàn thị Điểm
98LaregnèreBà Huyện Thanh QuanBà Huyện Thanh Quan
99RenaultHậu GiangHậu Giang
100René VigeriePhan Kế BínhPhan Kế Bính
101RésistanceNguyễn BiểuNguyễn Biểu
102RichaudPhan Đình PhùngNguyễn Đình Chiểu
103Roland GarrosThủ Khoa HuânThủ Khoa Huân
104SabourainTạ Thu ThâuTạ Thu Thâu
105SohierTự ĐứcNguyễn Văn Thủ
106TaberdNguyễn DuLý Tự Trọng
107TestardTrần Quý CápVõ Văn Tần
108Tong-KéouThuận KiềuThuận Kiều
109TurcVõ TánhHoàng Văn Thụ
110VerdunLê Văn DuyệtCách Mạng Tháng Tám
111VassoigneTrần Văn ThạchTrần Văn Thạch
112YunnamVạn TượngVạn Tượng
113Quai de BelgiqueBến Chương DươngVõ Văn Kiệt
114Quai Le MarnBến Hàm TửVõ Văn Kiệt
115Quai Le Myre de VilersBến Bạch ĐằngTôn Đức Thắng
116Quai de Fou-KienBến Trang TửTrang Tử

Thảm tấm Suminoe Px5002

  • Chất liệu: Sợi 100% PP
  • Kiểu dệt: Level loop pile
  • Kích thước: Tấm 50cm x 50cm
  • Độ dày: 6.5mm
  • Xuất xứ: Nhật Bản

Thảm tấm Nhật bản đế pvc, sợi siêu kháng khuẩn, bền đẹp xuyên thời gian, tái sử dụng.

Thảm Nhật được trải cho các dự án công trình cao cấp, chất lượng cao, độ thẩm mỹ cao .

Thảm được nhập khẩu và phân phối bởi công ty chúng tôi.

Giá bán lẻ: 420.000

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)

2.5 ( 2 bình chọn )
Album ảnh Thảm Tấm D1

Có những người con người lạ kì

Họ yêu Sài Gòn, nhưng lại yêu theo một cách rất tiêu cực. Đối với họ, hình ảnh Sài Gòn trước 1975 là một thứ gì đó rất cao sang, đẳng cấp, giàu có và văn minh. Trong tiềm thức của họ, “giải phóng” chỉ là một sự ăn cướp, phá huỷ đi những gì đáng thuộc về Sài Gòn. 

Đại đa phần, những người ấy, chưa bao giờ sống trong thời kỳ trước 1975, họ được nghe kể lại, xem lại, đối chiếu từ những bức ảnh đã cũ màu phong cách retro. Họ nghĩ rằng, Sài Gòn đáng được sinh tồn cho chính nó. Sài Gòn không cần được giải phóng!

Sài Gòn, không có tư cách quyết định Sài Gòn có quyền chọn giải phóng hoặc không giải phóng

Tao không cần tụi Bắc Kỳ giải phóng.

Thực ra câu chuyện ở đây, không phải là cần hay không. Một thế hệ cả Nam cả Bắc đã hi sinh để thống nhất dải đất vốn đã tồn tại bấy nhiêu năm qua, không phải để lũ trẻ ranh phán xét rằng “cần” hay “không cần”.

Sài Gòn, chưa bao giờ đại diện cho toàn thể miền Nam, những người tự nhận là người Sài Gòn gốc đó, cũng chưa bao giờ đủ tư cách để phán xét thay toàn thể người dân miền Nam. Nếu Sài Gòn đẹp, cao, rộng, văn minh, giàu có, thì Sài Gòn đã không có Củ Chi, Rừng Sác, chiến khu Đ, ở quanh Sài Gòn đã không có Tân Uyên, Gò Dầu, Tân An…

Người ta hay bám vào những giá trị xưa cũ, để nói rằng Sài Gòn luôn là một gì đó đẹp đẽ, phát triển. Người ta nghĩ rằng, trước 1975, Singapore, Seoul, Tokyo, Băng Cốc…phải ở dưới chân Sài Gòn. Nhưng có một sự thực rằng, tất cả những báo cáo từ World Bank, ADB, Liên Hợp Quốc…đều chỉ ra rằng chưa từng có thời điểm nào trong lịch sử, Sài Gòn ngang hàng được với các nơi ấy. 

Đại đa phần các bạn đó, không bao giờ chứng minh bằng mặt số liệu về luận cứ: Sài Gòn (hoặc toàn miền Nam) hơn được những quốc gia khác. Vì làm gì có tài liệu nào cho thấy điều đó, không gì cả.

Xem thêm: Kinh tế miền Nam trước 1975

Và đừng nhìn vào những hình ảnh đẹp đẽ của 2km vuông trung tâm Sài Gòn, để phán xét và mơ hồ rằng, Sài Gòn thật đẹp và những kẻ đi xe đạp vào giải phóng những kẻ đi ô tô để rồi cả 2 cùng đi xe máy.

Thực ra, họ đi xe tăng và xe tải đó chứ. Làm gì có ảnh các anh đạp xe vào giải phóng, một là chạy bộ khi nhảy xuống từ xe bọc thép và xe tải, hai là lao thẳng xe tăng tông cổng. Các cụ lắm khi cũng vui tính, chắc có tý rượu vào, phóng đâm vào cổng, để đến giờ, người ta vẫn chê trách: Vi phạm giao thông. 

Gì cũng nhẹ chân ga một chút.

Ý kiến của các bạn thế nào thì mình cũng kệ, nhưng không có nghĩa là đồng tình. 

Hãy giữ những hình ảnh Sài Gòn xưa trong tim chứ đừng đem nó ra để chê trách, phán xét

Sài Gòn, chưa bao giờ là hình ảnh đại diện cho cả miền Nam. Ôm mấy cái hình đã cũ ấy để rồi những người ngoài những tấm hình ấy đói khổ, cam lòng thế à? Miền Nam, có Tây Nam Bộ, có Đông Nam Bộ, có Nam Trung Bộ, có một phần Bắc Trung Bộ, có Tây Nguyên chứ đâu chỉ có mỗi Sài Gòn? Đừng “sướng” khi người khác khổ.

Xem thêm: Chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam?

Nói thế thôi, chứ cũng mặc kệ các bạn thôi.

Hãy cứ giữ lại hình ảnh đẹp ở trong tim, để làm là một phần của xưa cũ, để làm động lực cho sự phát triển và thay đổi. Chứ đừng đem nó ra làm bình phong để chê trách, để phán xét, để oán hận và hằn học.

Tifosi

Thảm Tấm D1

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)

Album ảnh Ngô Đình Nhu, phi vụ Maneli 1963, và cuộc “đi đêm” giữa Sài Gòn và Hà Nội

Thực hư cuộc “đi đêm” này ra sao, tiếp xúc tới mức nào, ý đồ của các bên hữu quan là gì? Các cuộc tiếp xúc có tác động tới diễn biến tình hình hay không? Đó là những câu hỏi mà bài này tìm cách trả lời bằng cách đối sánh các chứng từ với nhau, và đối sánh chúng với những hồ sơ lưu trữ một phần đã được giải mật trong những năm qua.

Những huyền thoại

Để phân biệt thực hư, trước hết hãy thanh lí một số huyền thoại có tính chất hư cấu.

Trước hết là một cuộc gặp giữa ông Ngô Đình Nhu và ông Phạm Hùng (uỷ viên Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam, phó thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) năm 1963. Một nhà sử học (1) đã khẳng định có cuộc gặp này và viện dẫn hồi kí của William Colby. Ông trùm CIA viết gì trong hồi kí?

Mấy năm về sau, tôi nghe kể từ một tướng lĩnh cao cấp Nam Việt Nam, một người lãnh đạo cuộc đảo chính chống Diệm và Nhu (…). Viên tướng này khoe đã nghe nói rằng, tuy ông ta không chứng kiến trực tiếp, đúng là năm 1963 Nhu đã gặp Phạm Hùng, người lãnh đạo nỗ lực Cộng sản ở miền Nam” (2).

Ngô Đình Nhu
Ngô Đình Nhu

W. Colby là giám đốc Cục tình báo CIA từ 1973 tới 1976. Ở thời điểm 1963, ông ta làm vụ trưởng Vụ Viễn Đông của CIA sau 3 năm liền làm thủ trưởng chi nhánh CIA ở Việt Nam (1959-62). Năm 1968, Colby trở lại Việt Nam với hàm đại sứ, cố vấn bên cạnh tướng Westmoreland, cho tới năm 1971.

Tóm lại, Colby là một tay trùm tình báo lão luyện, có hơn 10 năm kinh nghiệm về Việt Nam, có khả năng và quyền tham khảo các hồ sơ lưu trữ của CIA. Vậy mà, một cuộc gặp giữa hai nhân vật hàng đầu của chế độ Việt Nam cộng hoà và chế độ Việt Nam dân chủ cộng hoà, ông ta chỉ “nghe” một người “nói” là “đã nghe nói“.

Cũng phải nói thêm, Colby kể lại cuộc gặp này với mục đích nhét vào miệng ông Phạm Hùng một câu khâm phục ấp chiến lược để kết thúc chương sách nói về kế hoạch này (kế hoạch mà Ngô Đình Nhu coi là “quốc sách“, và Colby khiêm tốn khoe chính ông ta mới là cha đẻ của nó). Ông trùm tình báo cũng đủ tinh khôn để viết thêm một câu thận trọng “Giai thoại này có thể là chuyện bịa“.

Không biết Colby muốn nói ông tướng “bịa” ra cuộc gặp, hay chính ông đã “bịa” ra ông tướng. Nhưng bịa là cái chắc. Bịa tồi nữa kia năm 1963, người lãnh đạo Trung ương cục miền Nam là ông Nguyễn Văn Linh, tiếp theo (từ 1964 đến 1967) là ông Nguyễn Chí Thanh, sau khi tướng Thanh từ trần, ông Phạm Hùng mới vào Nam đảm nhiệm chức vụ này.

Một huyền thoại nữa là cuộc đảo chính ngày 1.11.1963 nhằm ngăn chặn một sự thoả hiệp giữa chính quyền Diệm – Nhu và đối phương. Một trong những người khẳng định dứt khoát điều này là tướng Đỗ Mậu (trước đảo chính là đại tá, phụ trách an ninh quân đội) “âm mưu thoả hiệp với chính quyền CS Hà Nội của chế độ Diệm là một trong những động cơ quan trọng, nếu không nói là động cơ quan trọng nhất, thúc đẩy quân đội cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng 1-11-63 để ngăn chận và trừng phạt dòng họ Ngô Đình dâng miền Nam cho Cộng Sản” (3).

Đây là một câu văn đậm đà tính chất tuyên ngôn (cách mạng, quân đội cùng với toàn dân…) không mấy quan tâm tới sự thật lịch sử. Nó cũng tương tự như tuyên bố của tướng Tôn Thất Đính, bộ trưởng nội vụ, mấy ngày sau cuộc đảo chính. Chỉ cần đưa ra vài nhận xét:

* Tác giả không nằm trong hạt nhân đầu tiên của cuộc đảo chính (gồm các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim). Còn Tôn Thất Đính, người được Diệm cử làm tổng trấn Sài Gòn, mãi tới những ngày chót mới tham gia đảo chính sau khi bị “khích tướng” (không được tổng thống cử làm bộ trưởng nội vụ và được nhóm đảo chính hứa hẹn).

* Trong các cuộc tiếp xúc của ba tướng này với người của CIA (Lucien Conein, Rufus Phillips…) được đại sứ Cabot Lodge uỷ nhiệm để xúc tiến đảo chính (từ tháng 7 đến ngày 1.11.1963), mục tiêu ngăn chận chính quyền Diệm – Nhu “thoả hiệp với Cộng sản” không hề được bên nào nêu ra (4).

* Người duy nhất nêu vấn đề này lên là tướng Nguyễn Khánh (tư lệnh Quân khu II) trong cuộc gặp nhân viên CIA ở Pleiku ngày 26.8.1963 để thoái thác hành động, “còn chờ động thái của Nhu đối với Hà Nội” (5). Hai tháng sau, Nguyễn Khánh tham gia cuộc đảo chính mà không đả động gì tới “động thái của Nhu” nữa.

Phải đợi đến cuối tháng giêng năm 1964, nghĩa là 3 tháng sau cuộc đảo chính thành công, Nguyễn Khánh mới đưa tin Mai Hữu Xuân và nhóm “trung lập thân Pháp” chuẩn bị đảo chính để xin Mĩ bật đèn xanh cho chính ông ta lật nhóm Dương Văn Minh (6). Như vậy, có thể giả định có căn cứ rằng câu chuyện “lá bài trung lập“, điều đình với “cộng sản” đối với tướng Khánh chỉ là cách nói để vừa lòng Mĩ.

* quan trọng hơn cả, hồ sơ lưu trữ của Nhà Trắng và Bộ ngoại giao Mĩ đều cho thấy khả năng chính quyền Diệm – Nhu “thương lượng bí mật với Hà Nội” tuy một hai lần được nêu lên trong các dự thảo kế hoạch phòng hờ, nhưng không bao giờ được coi là hiện thực và không hề là nhân tố (dù là thứ yếu) được nêu lên trong các cuộc thảo luận quyết định đảo chính kéo dài suốt ba tháng 8-9-10 năm 1963.

Lửa và khói

Như vậy là câu chuyện ông Ngô Đình Nhu tiếp xúc trực tiếp và bí mật với “phía bên kia” cũng như câu chuyện chính quyền Diệm-Nhu muốn bắt tay với miền Bắc để đòi Mĩ rút đi (hoặc rút bớt) chỉ là những huyền thoại được tạo dựng sau đó nhiều tháng và nhiều năm, với những mục đích khác nhau, nhưng cũng dễ lí giải.

Tuy nhiên, tục ngữ Việt Nam có câu không có lửa sao có khói. Thế mà, từ đầu năm 1963, và nhất là trong suốt mấy tháng hè, Sài Gòn và đặc biệt giới ngoại giao ở Sài Gòn xôn xao những lời đồn và những “tin mật” về các cuộc tiếp xúc qua trung gian của đại sứ Pháp Roger Lalouette, khâm mạng Toà Thánh Vatican Salvatore d’Asta, đại sứ ấn Độ Ram Godurdhun, chủ tịch Uỷ hội quốc tế (cơ quan do Hiệp định Genève 1954 đặt ra) và nhất là Mieczyslaw Maneli, đại sứ trưởng đoàn Ba Lan trong Uỷ hội.

Đại sứ Ba Lan Maneli
Đại sứ Ba Lan Maneli

Chưa ai khai thác hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Ấn Độ để biết đại sứ Ram Godurdhun cụ thể đã làm gì. Qua các công trình nghiên cứu đã xuất bản cho đến nay, dường như sự đóng góp của ông tóm gọn vào hai việc

* cùng với đại sứ Pháp Lalouette thúc đẩy ông Ngô Đình Nhu liên lạc với chính quyền miền Bắc, và đề nghị đại sứ Ba Lan (một nước xã hội chủ nghĩa) đóng vai trung gian (dưới đây sẽ nói về vai trò này).

* kể lại rằng trong một cuộc tiếp kiến, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với ông ta về ông Ngô Đình Diệm (bằng tiếng Pháp) “Il est, à sa manière, un patriote” (Ông ấy yêu nước theo kiểu của ông ta) – (dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích thái độ của miền Bắc).

Vai trò của khâm mạng d’Asta dường như cũng không đi xa hơn việc “biên đạo” cho cái bắt tay giữa Ngô Đình Nhu và Maneli trong cuộc chiêu đãi chiều ngày 25.8.1963 của quyền ngoại trưởng Trương Công Cừu (thay thế Vũ Văn Mẫu từ chức sau cuộc tấn công chùa chiền của các Lực lượng đặc biệt đêm 20.8). Đại sứ của Vatican còn phải tập trung vào việc điệu tổng giám mục Ngô Đình Thục về Roma và làm những động tác cần thiết để dư luận không (hay bớt) đồng hoá Giáo hội Roma với “chế độ Công giáo gia đình trị đàn áp Phật giáo“.

Ồn ào và kì lạ hơn cả là Roger Lalouette, đại sứ Pháp ở Sài Gòn. Như đã nói ở trên, Lalouette đã thúc đẩy đồng sự Ba Lan đặt vấn đề với Hà Nội và khuyến khích Ngô Đình tiếp Maneli. Việc này đòi hỏi sự kín đáo tối thiểu, nhất là ở thời điểm mà dư luận rất chú ý tới tuyên bố của tướng De Gaulle. Tổng thống Pháp long trọng yêu cầu “nước ngoài” chấm dứt can thiệp quân sự ở Việt Nam, mọi giải pháp phải dựa trên các nguyên tắc độc lập, thống nhất và “trung lập“.

Nói De Gaulle là nói “ma lực của ngôn từ“. Và khi lời nói không có lá bài tương xứng thì “ma lực” chỉ có thể xuất hiện khi ở trên chiếu bạc, các tay chơi đã cạn túi hoặc muốn đổi luật chơi. Ở Việt Nam năm 1963, tình huống đó chưa xảy ra. Nên tuyến bố ngày 29.8 của lão tướng chỉ nhằm “prendre date” (đánh dấu thời điểm). Ngày hôm sau, Alphand, đại sứ Pháp ở Washington, thừa nhận Pháp trước mắt “không có giải pháp nào” để đề nghị cả (7).

Hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Pháp cho thấy các “hoạt động môi giới” của đại sứ Pháp dường như đều là những “sáng kiến cá nhân” không xin phép, thậm chí không báo cáo (thí dụ như việc ông đã tự tiện đưa đồng liêu của mình là Tổng đại diện Pháp ở Hà Nội (ghé Sài Gòn nghỉ hè) tới gặp ngoại trưởng Trương Công Cừu). Lại ồn ào nữa (một loạt bài báo Mĩ nói tới vai trò “môi giới trung lập hoá” của ông xuất hiện đầu tháng 9.63), nên ngày 10.9, Lalouette bị ngoại trưởng Couve de Murville triệu về Pháp (8).

Vai trò trung gian giữa chính quyền hai miền rốt cuộc chỉ còn một mối đại sứ Ba Lan Maneli. May thay cho các nhà sử học, Maneli là một nhà luật học, được chính quyền Ba Lan cử vào Uỷ hội quốc tế với tư cách một luật gia chứ không phải là với tư cách cán bộ chính trị hay ngoại giao. Sau hai nhiệm kì ở Việt Nam, ông trở lại giảng dạy ở Trường đại học Warzsaw. Vì những bài giảng và bài viết không “đúng lập trường xã hội chủ nghĩa” ông bị cách chức rồi di cư sang Mĩ dạy học ở Queens College (New York).

Cho nên, Maneli không phải là một người “vượt màn sắt chọn tự do“, viết sách vì “căm thù cộng sản từ trong máu” hay/và làm vừa lòng Mĩ. Chứng từ của ông (9) do đó là một tài liệu đáng tin cậy, ít nhất là đáng tin cậy như một chứng từ trung thực (và cũng như mọi chứng từ trung thực, nó cần được kiểm chứng).

Maneli cho biết trong một cuộc gặp thủ tướng Phạm Văn Đồng và bộ trưởng ngoại giao Xuân Thuỷ (đầu tháng 7.63) “Tôi hỏi nên làm gì nếu Ngô Đình Nhu mời tới nói chuyện. Họ trả lời ngay lập tức nhận gặp và lắng nghe. Tôi lại hỏi họ có muốn tôi nói gì (với Nhu). Họ trả lời ‘Tất cả những gì đồng chí biết về lập trường của chúng tôi trong sự trao đổi và hợp tác kinh tế và văn hoá (giữa hai miền). Một điều chắc chắc là Mĩ phải rút đi. Trên cơ sở chính trị ấy, chúng tôi có thể thương lượng bất cứ điều gì’“.

Maneli hỏi thêm về khả năng một chính phủ liên hiệp ở miền Nam hay một hình thức liên bang Bắc Nam, ông Đồng trả lời (có mặt chủ tịch Hồ Chí Minh) “Trên cơ sở độc lập và chủ quyền của Việt Nam, mọi điều đều có thể thương lượng. Hiệp định Genève đã đặt ra nền tảng pháp lí và chính trị không có căn cứ hay quân đội nước ngoài trên lãnh thổ đất nước chúng tôi. Như thế, chúng tôi có thể đi tới thoả thuận với bất luận người Việt Nam nào” (10).

Trở vào Sài Gòn, Maneli đợi Lalouette và d’Asta sắp xếp cuộc gặp Ngô Đình Nhu. Như đã nói trên, họ bắt tay nhau lần đầu trong cuộc chiêu đãi ngày 25.8 (ngày hôm đó, sinh viên Sài Gòn xuống đường phản đối cuộc tấn công chùa chiền 20.8, Cabot Lodge xuất hiện tại cuộc chiêu đãi nhưng chưa chính thức là đại sứ vì chưa trình quốc thư; tin đồn sẽ có đảo chính ngày 1 hay 2.9).

Ngày 2.9 (Quốc khánh Việt Nam dân chủ cộng hoà !), Ngô Đình Nhu tiếp riêng Maneli tại văn phòng ở dinh Gia Long. Như các cuộc hội kiến khác của anh em Diệm – Nhu với bất luận người nước nào, phần lớn thời giờ dành cho lời độc thoại tràng giang đại hải. Ông Nhu nói những gì, phần dưới sẽ nói tới, nhưng riêng về vấn đề hiệp thương, thì theo chứng từ của đại sứ Ba Lan, ông ta chỉ vỏn vẹn hai ý:

1. “Tôi không phản đối đàm phán và hợp tác với miền Bắc, và như ông biết, nhiều nhà ngoại giao phương Tây đã đề nghị với tôi. Ngay trong những trận giao tranh tàn ác nhất, người Việt Nam cũng không quên ai là người Việt, ai là ngoại quốc. Nếu có bắt đầu đối thoại trực tiếp, thì có thể tiến tới xích lại gần. Và Uỷ hội quốc tế – cũng như bản thân ông – sẽ có thể đóng vai trò tích cực ở đây“,

2. “Trong tương lai gần, tôi không dự liệu điều gì có thể dẫn tới nói chuyện trực tiếp, nhưng sớm muộn có thể sẽ hé ra khả năng” (11).

Vỏn vẹn có thế thôi, và đó là lần cuối cùng đại sứ Ba Lan gặp Ngô Đình Nhu. Xin nhắc lại, đó là ngày 2.9.1963. Nghĩa là N-60 đúng 2 tháng sau, anh em ông Diệm và ông Nhu bị bắn và đâm chết trong chiếc xe thiết giáp M.113. Sự thật, số phận của họ đã được định đoạt gần mười ngày trước đó, trong bức điện mang số 243 (ngày 24.8.63) của Bộ ngoại giao Mĩ gửi Sứ quán ở Sài Gòn (xem một bài sau).

Nhìn từ Hà Nội

Tiếc rằng hồ sơ lưu trữ về năm 1963 ở Hà Nội vẫn chưa được mở ra cho các nhà nghiên cứu (một thủ đô đồng bệnh bí mật nữa là Vatican). Tập Thư vào Nam của ông Lê Duẩn tập hợp những lá thư của bí thư thứ nhất Đảng cộng sản VN gửi Trung ương cục Miền Nam trong thời gian 1961-1975, là một cứ liệu quý báu, nhưng có một lỗ hổng lớn 1963-1964.

Các tài liệu mật của Trung ương cục mà Mĩ bắt được và bắt đầu công bố chủ yếu cũng chỉ đề cập tới đấu tranh vũ trang và chính trị, nhưng không nói gì tới các cuộc tiếp xúc (gián tiếp hay trực tiếp). Báo cáo của CIA cho biết nhiều lần Ngô Đình Nhu khoe có liên lạc với tướng này tướng nọ của Quân giải phóng, nhưng rõ ràng là bịa đặt để “trộ” CIA (và trộ không thành).

Tuy nhiên, lá thư của ông Lê Duẩn gửi ông Nguyễn Văn Linh tháng 7.1962 (ngay sau Hiệp định về chính phủ liên hiệp ở Lào), đối chiếu với những tuyên bố chính thức, cho phép ta hình dung ra những nét lớn trong nhận định và chủ trương của lãnh đạo ĐCS

Trong quá trình phát triển của chiến tranh, nếu đánh lâu dài mà không thể thắng được ta, thì đến một lúc nào đó, có khả năng Mỹ phải thay Diệm hoặc buộc phải thương lượng với ta và chấp nhận chính phủ liên hiệp. Nhằm chủ động đón khả năng đó, ta nên liên hệ với những nhân sĩ tiến bộ có uy tín, có cảm tình với cách mạng, nhưng chưa bị lộ với địch, để sử dụng vào việc đấu tranh lập chính phủ nhiều thành phần sau này (Phải thuyết phục họ tìm cách bề ngoài có quan hệ với Mĩ, nhưng phải hết sức giữ bí mật cho họ vì có thể họ sợ quan hệ với Mĩ sẽ mất uy tín, và bị ta hiểu lầm)” (12).

Rõ ràng là sau hội nghị Genève về Lào (1962), ĐCS coi chính phủ liên hiệp là khả năng tối ưu cho một giải pháp ở miền Nam, mặc dầu không thể coi giải pháp Lào là một “mô hình

Tình hình miền Nam nước ta có khác với Lào. Vấn đề đặt ra ở đây là phải hạn chế sự can thiệp ngày càng tăng của đế quốc Mĩ, là không cho địch biến ‘chiến tranh đặc biệt’ thành ‘chiến tranh cục bộ’, mở rộng chiến tranh ra cả nước, và ta phải biết thắng địch trong ‘chiến tranh đặc biệt’, trong phạm vi miền Nam” (sđd, tr 62).

Hồ sơ lưu trữ của Bộ chính trị ĐCSVN chắc sẽ mang lại nhiều tình tiết thú vị, bất ngờ. Nhưng về cơ bản, ngay từ bây giờ, có thể nhận định không mấy sai lầm là, năm 1963:

* Lãnh đạo ĐCSVN muốn hạn chế mức tham chiến của Mĩ và mong muốn đi tới giải pháp chính phủ liên hiệp

* Nắm mọi vận hội đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm trong chiều hướng ấy, hay ít nhất, làm tất cả để khoét sâu những mâu thuẫn giữa chính quyền này (hay chính quyền nào thay thế nó) và chính quyền Mĩ.

Nhìn từ Washington

Lúc đó, và bây giờ càng thấy rõ hơn chính quyền Kennedy (mặc dầu đã có những đề nghị của thượng nghị sĩ Mike Mansfield, đại sứ Mĩ ở New Delhi Charles Bohlen… ) và sau ngày 1.11.63, chính quyền Johnson, tuy không thống nhất về mức độ tham chiến, hoàn toàn nhất trí trong quyết tâm “chiến thắng” (Win the War). Đối với họ, một giải pháp “chính phủ liên hiệp” (mặc dầu Kennedy đã phải chấp nhận ở Lào) chỉ là “đầu hàng cộng sản” một cách trá hình. Cái ý chí ấy, phải tới năm 1968 mới bị bẻ gãy.

Năm 1963, ý chí “Counter Insurgency” (đập tan chiến tranh giải phóng) còn nguyên vẹn. Và nguyên vẹn là niềm tin vào những báo cáo thắng lợi quân sự, kế hoạch ấp chiến lược thành công của tướng Harkins và Bộ chỉ huy Mỹ gửi về Washington (phải đến tháng 12.1963, Nhà Trắng mới bắt đầu hiểu ra rằng ấp chiến lược đã sụp từng mảng lớn, rằng tình hình quân sự đã “xấu đi nghiêm trọng” không phải từ cuộc đảo chính 1.11, hay từ mùa hè, mà từ đầu năm 1963, cụ thể là từ trận ấp Bắc (2.1.1963) (13).

Nhìn từ Dinh Gia Long

Cái nhìn về tình hình, Nhà Trắng hoang tưởng một, thì dinh Gia Long hoang tưởng mười. Nhà báo chủ chiến tới cùng, người ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm tới giờ chót, là Jo Alsop, tới Sài Gòn đầu tháng 9.63 với mục đích “giải độc dư luận Mĩ về vụ Phật giáo và những thông tin bi quan về quân sự” đã không tin nổi tai mình khi nghe ông Nhu “nói toạc rằng mình mới là ông chủ thực sự của chính phủ Việt Nam trong khi ông ta không còn nhận thức gì được nữa về cái thế giới ở bên ngoài Dinh Gia Long“, và càng tá hoả hơn khi ngồi nghe ông Diệm độc thoại (14).

Cả ngày chủ nhật 27.10.1963, Ngô Đình Diệm mời đại sứ Henry Cabot Lodge đi kinh lý và chuyện trò. Hôm sau (ảnh trên) họ khánh thành Lò nguyên tử Đà Lạt. Bốn ngày sau, nổ ra cuộc đảo chính. Sự thật, số phận của anh em họ Ngô đã được quyết định trong một chỉ thị Washington gửi Cabot Lodge từ ngày 24.8.1963.
Cả ngày chủ nhật 27.10.1963, Ngô Đình Diệm mời đại sứ Henry Cabot Lodge đi kinh lý và chuyện trò. Hôm sau (ảnh trên) họ khánh thành Lò nguyên tử Đà Lạt. Bốn ngày sau, nổ ra cuộc đảo chính. Sự thật, số phận của anh em họ Ngô đã được quyết định trong một chỉ thị Washington gửi Cabot Lodge từ ngày 24.8.1963.

Ta hãy nghe ông Ngô Đình Nhu độc thoại trước mặt đại sứ Ba Lan Maneli trong cuộc gặp ngày 2.9.1963

Tôi tiến hành một cuộc chiến tranh mà mục đích là chấm dứt chiến tranh một cách vĩnh hằng ; tôi chiến đấu chống Cộng sản thực sự là để kết liễu chủ nghĩa tư bản duy vật. Tạm thời tôi buộc phải hạn chế tự do để rồi mang lại tự do dưới dạng thức vô hạn của nó. Tôi củng cố kỉ luật cũng là để đi tới mục tiêu bãi bỏ những ràng buộc bên ngoài của nó. Tôi tập trung hoá Nhà nước là để dân chủ hoá và giải tập trung Nhà nước. Ông thấy đó, tôi là môn sinh của Hegel về biện chứng pháp“.

Người Mĩ và Việt cộng tưởng đâu rằng ấp chiến lược chỉ đơn thuần là những cơ cấu quân sự, chiến thắng rồi, không cần nữa, sẽ dẹp đi. Cả Mĩ lẫn Việt cộng đều nhầm cả vì họ đi từ những tiền đề duy vật chủ nghĩa. ấp chiến lược là định chế cơ bản của nền dân chủ trực tiếp. Một khi phát triển và đơm hoa kết trái rồi, ấp chiến lược sẽ là những hạt nhân thực thụ của tổ chức quốc gia, còn Nhà nước thì, như Marx nói, sẽ tiêu vong“.

Cố nhiên, cũng như nhà báo Mĩ Alsop, ông đại sứ Ba Lan Maneli “không tin nổi tai mình“, sợ mình nghe lầm, hay là ông “đặc cố” lỡ miệng dùng ngôn ngữ mác-xít. Thấy người đối diện trố mắt ngạc nhiên, Ngô Đình Nhu phải nhắc lại, nhấn mạnh hơn

Đúng như vậy đó. Tôi đồng ý với kết luận cuối cùng của Marx Nhà nước phải tiêu vong – đó là điều kiện cho sự toàn thắng tối hậu của dân chủ. Lẽ sống của tôi là làm sao để tôi trở thành không cần thiết nữa” (15).

Mọi bình luận về lời trường thiên độc thoại trong bầu không khí siêu thực ấy lại càng thừa. Có cần thêm, là một thông tin ngay chiều hôm đó, Ngô Đình Nhu thông báo cho Mĩ về cuộc gặp Maneli. Cũng như ông là người tung ra tin đồn, hôm nay là “thương lượng bí mật với Bắc Việt“, mai là “điều quan trọng là tách Việt cộng khỏi ảnh hưởng Bắc Việt“. Bộ trưởng Phủ tổng thống Nguyễn Đình Thuần thố lộ với sứ quán Mĩ là Nhu hút thuốc phiện. Sau này, tướng Trần Văn Đôn phủ nhận.

Không biết ai đúng, chỉ biết chắc là ông Nhu say sưa với những chiến thắng tưởng tượng vừa bày ra những mưu ma chước quỷ để hù mấy ông tướng đang rục rịch đảo chính và làm săng ta với Mĩ bằng câu chuyện “đi đêm” với Hà Nội. Đi đêm thì có ngày gặp ma. Không đi đêm mà mộng du thì có ngày thành ma. Đó là ngày 2.11.1963. Sau đó ít hôm, Cabot Lodge nói với nhà báo David Halberstam “Nếu hai anh em nhà ấy còn sống, thì ta sẽ kẹt chứ ? Bất cứ thằng cha căng chú kiết phản động nào trên thế giới cũng sẽ mang ra xài để phá ta” (16).

Nguyễn Ngọc Giao

——————————–

(1) Vũ Ngự Chiêu, Tướng Dương Văn Minh và Đệ Nhất Cộng Hoà

(2) William Colby, The Lost Victory, Contemporary Books, Chicago, 1989, tr. 102-103

(3) Hoành – Linh Đỗ Mậu, Việt Nam Máu lửa quê hương tôi, Tác giả xuất bản, Hoa Kỳ, 1987, trang 665.

(4) Hồ sơ lưu trữ Bộ ngoại giao Mĩ : Foreign Relations, 1961-1963, Volume III, Vietnam, January-August 1963

(5) FOREIGN RELATIONS OF THE UNITED STATES, 1961–1963, VOLUME IV, VIETNAM, AUGUST–DECEMBER 1963. Tài liệu số 294

(6) Điện của chi nhánh CIA Sài Gòn gửi CIA trung ương ngày 28.1.1964

(7) Bị vong lục về cuộc gặp giữa quyền ngoại trưởng Ball và Alphand, đại sứ Pháp tại Washington, 30.8.1963. Tài liệu số 28

Của đáng tội, mùa xuân 1963, chính phủ Pháp cũng đã kín đáo chuẩn bị lá bài Trần Văn Hữu và để tiện bề tranh thủ một số nhân sĩ Việt Nam ở Pháp, đã trục xuất (không công bố) bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Những hồ sơ lưu trữ đã được giải mật của Phủ tổng thống và Bộ ngoại giao cho thấy một vài động tác, nhưng xem ra cũng thuộc loại “lực bất tòng tâm“.

(8) Ellen J. Hammer, A Death in November / America in Vietnam, 1963, E. P. Dutton, New York, 1987, tr. 232. Không nên dùng bản dịch Việt ngữ xuất bản tại Mĩ, sai và thiếu nhiều.

(9) Mieczyslaw MANELI, War of the Vanquished, translated from the Polish by Maria de Gửrgey, Harper & Row, New York, 1971

(10) Báo cáo ngày 10.7.63 gửi về Bộ ngoại giao Ba Lan và Sứ quán Liên Xô ở Hà Nội, sđd. tr. 127-128.

(11) sđd, tr. 146.

(12) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1985, tr.65

(13) FOREIGN RELATIONS OF THE UNITED STATES, 1961–1963, VOLUME IV, VIETNAM, AUGUST–DECEMBER 1963. Tài liệu số 343

(14) Joseph Alsop, In the Gia Long Palace, báo New York Herald Tribune, September 20, 1963 (in lại trong cuốn Reporting Vietnam, Part One, The Library of America, 1998, tr. 92).

(15) Maneli, sđd, tr. 145-146.

(16) Neil Sheehan, L’innocence perdue, Seuil, Paris, 1990, tr. 312 (nguyên tác tiếng Mĩ : A Bright Shining Lie, Random House Inc., New York, 1988).

Ngô Đình Nhu, phi vụ Maneli 1963, và cuộc “đi đêm” giữa Sài Gòn và Hà Nội

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)

Album ảnh Bến Bạch Đằng Sài Gòn

“Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai. 

Từ xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay.

 Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi này.

Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi…”.

Bến Bạch Đằng trước năm 1975 là con đường dọc bờ sông Sài Gòn, đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đầu đường Hàm Nghi nối với đường Bến Chương Dương. Sau năm 1975, đường Bến Bạch Đằng đổi thành đường Tôn Đức Thắng (nối thêm một đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đường Lê Duẩn mà trước năm 1975 là một đoạn của đường Cường Để)…

Sài Gòn xưa có nhiều con đường mang tên bắt đầu từ “bến” – những bến sông nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chẳng hạn, bến Bạch Đằng gắn liền với lịch sử ba lần đánh thắng quân xâm lược; bến Chương Dương và Hàm Tử là hai bến sông gắn với các chiến thắng quân Nguyên Mông vào thế kỷ 13…

Con đường Bến Chương Dương trước kia nối với đường Bến Bạch Đằng chạy dọc theo rạch Bến Nghé đến hết địa phận quận 1 giáp với quận 5 – nay là cầu Nguyễn Văn Cừ. Từ đây, đường này nối tiếp với đường Bến Hàm Tử chạy dọc theo kênh Tàu Hũ vào tới cầu Chà Và, Chợ Lớn.

Lại nhớ danh tướng Trần Quang Khải sau những chiến công hiển hách, khi về trí sĩ đã làm bài thơ có hai câu: “Chương Dương cướp giáo giặc. Hàm Tử bắt quân thù…”. Năm 2010, khi đại lộ Đông Tây hoàn thành, đường Bến Chương Dương và Bến Hàm Tử trở thành một phần con đường mới mang tên Võ Văn Kiệt.

Bên kia rạch Bến Nghé, phía quận 4, vẫn còn con đường mang tên Bến Vân Đồn – cũng là một địa danh lừng lẫy trong công cuộc chống quân xâm lược Nguyên Mông gắn liền với danh tướng Trần Khánh Dư. Trước kia, Bến Vân Đồn là con đường nhỏ hẹp chạy dọc bờ rạch nhếch nhác đầy rác rến trôi lềnh bềnh dưới những căn nhà sàn tạm bợ, nằm cạnh đám ghe thuyền bán đủ thứ hàng hóa từ các tỉnh về…

Nhưng hiện nay, đường Bến Vân Đồn đã mở rộng thoáng đãng, hoành tráng, những nhà sàn trên rạch đã được giải tỏa, thay vào đó là một công viên cặp bờ sông chạy dài tới cầu Nguyễn Văn Cừ bắc từ quận 5 qua như một ngã ba nối với quận 8 và quận 4. Nhà đất trên đường Bến Vân Đồn bây giờ là đất vàng, bởi quận 4 bây giờ được coi như “quận Một phẩy”!

Bến Bạch Đằng những năm cuối 1950, đầu 1960 là nơi hẹn hò lý tưởng của những đôi tình nhân. Hoàng hôn buông xuống, các cặp tình nhân bình dân hẹn nhau ra các quán dọc bờ sông ngồi ăn bò bía, uống nước mía, nước ngọt hay ăn kem, vừa tâm sự vừa ngắm nhìn dòng sông Sài Gòn chảy hiền hòa.

Xem thêm: 20 bức ảnh hiếm về Sài Gòn năm 1948 qua ống kính của Jack Birns

Trong công viên dọc bờ sông có nhiều người tập thể dục hay tản bộ, hoặc có người sau khi tan sở đạp xe ra bến đứng hóng gió sông trước khi về nhà. “… Người ra thăm bến, câu chào nói lao xao…”. Lâu lâu lại có một con tàu lớn chạy qua hay mấy chiếc sà lan xình xịch chở bà con tiểu thương, công nhân tan ca chạy từ Bến Bạch Đằng qua Thủ Thiêm.

Nhà hàng Mỹ Cảnh trên bến Bạch Đằng
Nhà hàng Mỹ Cảnh trên bến Bạch Đằng

Trước năm 1975, về cuối đường Bến Bạch Đằng gần đầu đường Hàm Nghi có hai nhà hàng nổi trên sông là Ngân Đình và Mỹ Cảnh thuộc loại sang trọng nhất nhì TP. Đến cuối những năm 1980, đầu 1990, trên Bến Bạch Đằng, đối diện tượng Trần Hưng Đạo xuất hiện “khách sạn nổi năm sao” của một tập đoàn nước ngoài – một biểu tượng của thời kỳ đổi mới và hòa nhập bấy giờ. Nhưng chỉ mấy năm sau thì tàu khách sạn nổi dời đi, chút kỷ niệm một thời còn lại là tiền sảnh tiếp tân và khoảnh sân hòa nhập vào cái hồn cốt của Công viên Bến Bạch Đằng hôm nay.

Thạm Đình

Bến Bạch Đằng Sài Gòn

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)

Album ảnh 20 bức ảnh hiếm về Sài Gòn năm 1948 qua ống kính của Jack Birns

Vào cuối thập niên 40, Jack Birns đã có mặt ở Sài Gòn lúc đó còn dưới quyền cai trị của thực dân Pháp. Mang theo trên người ba bộ máy ảnh, ông đã lưu lại những khoản khắc rất thú vị về cuộc sống Sài Gòn vào năm 1948, nhất là sự tương phản giữa văn hóa truyền thống của người Việt Nam và sự ảnh hưởng phương Tây mà người Pháp đã mang qua Đông Dương. Mời các bạn cùng Khám Phá Lịch Sử xem lại những bức ảnh quý hiếm về Sài Gòn năm 1948.

Xem thêm: Ảnh màu về bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975

20 bức ảnh hiếm về Sài Gòn năm 1948 qua ống kính của Jack Birns

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)

Album ảnh Ảnh màu về bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975

Bến Bạch Đằng những năm cuối 1950, đầu 1960 là nơi hẹn hò lý tưởng của những đôi tình nhân. Mời các bạn cùng Khám Phá Lịch Sử xem loạt ảnh về bến Bạch Đằng giai đoạn trước 1975.

Xem thêm: 20 bức ảnh hiếm về Sài Gòn năm 1948 qua ống kính của Jack Birns

Ảnh màu về bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)

Album ảnh Những tấm ảnh độc về người nghèo ở Sài Gòn năm 1965

Mời các bạn cùng Khám Phá Lịch Sử xem một số bức ảnh “độc” về người nghèo ở Sài Gòn được chụp bởi cựu binh Mỹ Thomas W. Johnson chụp vào năm 1965:

Những tấm ảnh độc về người nghèo ở Sài Gòn năm 1965

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)

Album ảnh Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ tiếng Pháp

Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.

Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.

Linh mục Alexandre de Rhodes
Linh mục Alexandre de Rhodes

Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình vốn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).

Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày – toi), moa hay mỏa (tôi, tao – moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải… trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).

Nói thêm về hỏa xa, người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.

Nhà ga xe lửa cạnh đầu đường Lê Lai (1931)
Nhà ga xe lửa cạnh đầu đường Lê Lai (1931)

Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính, ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.

Ga Đà Lạt (1938)
Ga Đà Lạt (1938)

Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum)…

Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.

Ngân Hàng Đông Dương nhìn từ phía sau góc Tôn Thất Đạm - Nguyễn Công Trứ
Ngân Hàng Đông Dương nhìn từ phía sau góc Tôn Thất Đạm – Nguyễn Công Trứ

Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt Nam vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ẩm thực, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho – vin)…

Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.

Bánh Pâté Chaud
Bánh Pâté Chaud

Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant).

Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).

Cà phê Brodard trên đường Catinat
Cà phê Brodard trên đường Catinat

Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”“cái nồi ngồi trên cái cốc”.

Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.

Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ thì mang xú-chiêng (nịt ngực – soutien-gorge) và xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).

Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).

Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!). Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.

Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan (ngày nay gọi là hải quan) được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc.

Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…

Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc – orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó.

Vũ trường Maxim’s trên đường Tự Do cạnh khách sạn Majestic
Vũ trường Maxim’s trên đường Tự Do cạnh khách sạn Majestic

Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.

Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện.

Trụ sở hãng sữa Nestlé (sữa con chim) trên đường Công Lý
Trụ sở hãng sữa Nestlé (sữa con chim) trên đường Công Lý

Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng.

Sữa bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…

Logo hình tổ chim của hãng sữa Nestlé
Logo hình tổ chim của hãng sữa Nestlé

Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.

Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.

Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”.

Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.

Tình cờ tôi bắt gặp trang web của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa!

Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái – volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn – clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít – tournevis), công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…

Công ty xe hơi Pháp Citroen (REX Hotel Saigon) 1927
Công ty xe hơi Pháp Citroen (REX Hotel Saigon) 1927

Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp – pedale), săm (ruột bánh xe – chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa – porte-bagages).

Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).

Xe hơi trên đường Nguyễn Huệ
Xe hơi trên đường Nguyễn Huệ

Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.

Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa.

Nguyễn Ngọc Chính

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ tiếng Pháp

  • Chất liệu:
  • Kiểu dệt:
  • Kích thước:
  • Độ dày:
  • Xuất xứ:

Giá bán lẻ: 0đ

Gọi ngay để nhận giá sỉ tốt nhất

(Hỗ trợ nhanh 0986900513)